TS Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam cho biết, rau má mỡ (Hydrocotyle sibthorpioides) thường mọc ven bờ ruộng hay trong những khu vườn ẩm ướt. Do đặc tính mọc hoang dại, rau má mỡ thường bị coi là cỏ dại phải nhổ bỏ.

Tuy nhiên, trong dân gian, rau má mỡ đã được sử dụng khá phổ biến vừa như một loại rau vừa là cây thuốc nam hữu hiệu. Tại nhiều địa phương, người dân thường giã nát loại rau này lấy nước uống khi cơ thể bị “nóng trong”, nổi rôm sảy hoặc tiểu ít.

Trong y học cổ truyền, rau má mỡ mang tính mát, thường được dùng rộng rãi trong các bài thuốc hướng tới công năng thanh nhiệt cơ thể, lợi tiểu và hỗ trợ điều trị viêm nhẹ ngoài da hoặc các biểu hiện nóng nhiệt.

Rau má mỡ có tác dụng thanh nhiệt, kháng viêm. Ảnh: N. Huyền 

Các nghiên cứu bước đầu cho thấy, trong thành phần của rau má mỡ chứa các hoạt chất sinh học quý như flavonoid, triterpenoid cùng một số hợp chất chống oxy hóa.

Đáng chú ý, một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận cây có hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa, hỗ trợ bảo vệ tế bào thần kinh và hỗ trợ miễn dịch trên mô hình phòng thí nghiệm. Ngoài ra, tại một số nước châu Á, rau má mỡ còn được nghiên cứu theo hướng hỗ trợ gan và chuyển hóa. Tuy nhiên, chuyên gia nhấn mạnh rằng phần lớn dữ liệu hiện nay vẫn là nghiên cứu tiền lâm sàng.

Dù là một thảo dược lành tính, việc sử dụng rau má mỡ vẫn đòi hỏi người dùng phải tuân thủ các nguyên tắc an toàn. 

Tiến sĩ Phương khuyến cáo người dân cần đặc biệt chú ý đến nguồn thu hái rau, tránh những nơi ô nhiễm hoặc có thuốc bảo vệ thực vật.

Bên cạnh đó, do rau má mỡ có tính mát nên người có cơ địa lạnh hay tiêu lỏng không nên dùng quá nhiều. Đặc biệt, phụ nữ mang thai hoặc người đang điều trị bệnh mạn tính nếu muốn sử dụng kéo dài cũng nên tham khảo ý kiến chuyên gia để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.