Các chuyên gia về đột quỵ khẳng định việc chi nhiều tiền cho các gói kiểm tra sức khỏe phức tạp chưa chắc mang lại hiệu quả như một số người vẫn nghĩ.
Tầm soát đột quỵ là một nhu cầu y tế quan trọng. Lợi dụng sự lo lắng của người dân, nhiều cơ sở đã quảng cáo các dịch vụ tầm soát đột quỵ với chi phí cao với lời lẽ mỹ miều như chụp CT 128 dãy, 256 lát cắt, chụp MRI để phát hiện nguy cơ đột quỵ từ “trứng nước”.
Báo VietNamNet đăng tuyến bài về “Lầm tưởng về tầm soát đột quỵ, càng đắt tiền càng tốt” để phản ánh về thực trạng trên cũng như đưa ra lời khuyên hữu ích của các bác sĩ cho cộng đồng.
Kỳ 1: Tầm soát đột quỵ bị ‘thổi phồng’, đánh vào nỗi lo sợ đột ngột qua đời
Không có gói sàng lọc trọn đời
Đầu năm nay, chị L.T.H (phường Hồng Hà, Hà Nội) lên kế hoạch đưa bố mẹ ngoài 60 tuổi cùng với hai vợ chồng chị đi tầm soát đột quỵ. Chị H. luôn cảm thấy lo lắng khi đọc chia sẻ của một số người trên mạng xã hội về việc đang khỏe bỗng qua đời do đột quỵ. Thậm chí, câu chuyện đột quỵ được mọi người nói trong bữa cơm hằng ngày. Để gia đình yên tâm, chị H. bàn với chồng đi tầm soát, sàng lọc bệnh bởi “tiền bao nhiêu cũng không bằng sức khỏe”.
Chị được tư vấn gói tầm soát gồm chụp cộng hưởng từ (MRI) não, chụp mạch cảnh, chụp CT, siêu âm mạch máu, đo điện tim, đo chỉ số ABI/TBI (huyết áp cổ chân – cánh tay), tìm đột biến gene, chụp soi đáy mắt, xét nghiệm máu… chi phí 25 triệu đồng. Cả 4 người lớn trong nhà tốn khoảng 100 triệu đồng.
Người phụ nữ này chia sẻ “phòng còn hơn chống, khi bệnh đến lại trở tay không kịp, hối hận cả đời”.
Trao đổi với PV VietNamNet, PGS.TS Nguyễn Huy Thắng – Chủ tịch Hội Đột quỵ TPHCM, Trưởng khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết, các kỹ thuật hình ảnh chuyên sâu như chụp MRI não hay chụp mạch não thường chỉ được chỉ định khi bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân có dấu hiệu bất thường hoặc đã xuất hiện triệu chứng nghi ngờ đột quỵ. Việc áp dụng những phương pháp này trong tầm soát diện rộng ở người hoàn toàn khỏe mạnh đôi khi không mang lại nhiều lợi ích.
Theo PGS Thắng, tầm soát quá sâu thậm chí có thể dẫn đến những phát hiện tình cờ gây lo lắng không cần thiết. Ví dụ, khoảng 3% dân số có thể có túi phình mạch não nhỏ nhưng phần lớn là lành tính và nguy cơ vỡ rất thấp, đặc biệt khi kích thước dưới 5mm.
“Nếu phát hiện những túi phình nhỏ này, nhiều người có thể rơi vào trạng thái lo lắng kéo dài. Họ luôn sợ bị đột quỵ và thậm chí không dám đi bộ lo mạch máu vỡ – điều này rất đáng tiếc”, PGS Thắng nói.
Một số khác lại can thiệp sớm trong khi chưa thực sự cần thiết. Khi đó, một số thủ thuật can thiệp mạch não có thể gặp rủi ro, gây biến chứng với tỷ lệ khoảng 1-2%, thậm chí cao hơn nguy cơ vỡ tự nhiên của các túi phình nhỏ.
Cùng quan điểm, BSCKII Nguyễn Tiến Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho rằng nhiều người hiện nay sẵn sàng chi số tiền lớn để sàng lọc với mong muốn chắc chắn sẽ không mắc đột quỵ trong tương lai. Tuy nhiên, điều này là không đúng.
Theo khuyến cáo của các tổ chức chuyên môn như Hội Đột quỵ Mỹ, Hội Đột quỵ châu Âu và Tổ chức Đột quỵ Thế giới, việc tầm soát nên tập trung vào phát hiện các yếu tố nguy cơ nền thay vì chạy theo các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại.
“Không có chuyện chụp CT 256 dãy thì sàng lọc tốt hơn máy 64 dãy. Sàng lọc đột quỵ thực chất là tìm và kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh, chứ không phải là phương pháp đảm bảo rằng một người sẽ không bao giờ bị đột quỵ”, bác sĩ Dũng nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Dũng, sàng lọc đột quỵ thực chất là quá trình phát hiện và kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh, chứ không phải phương pháp đảm bảo một người sẽ không bao giờ bị đột quỵ.
Tầm soát, khám sàng lọc như thế nào là phù hợp?
Về nguyên tắc, PGS Nguyễn Huy Thắng cho rằng, việc tầm soát đột quỵ trong cộng đồng chỉ cần tập trung vào những yếu tố nguy cơ chính.
Theo ông, một gói khám sức khỏe cơ bản có thể phát hiện phần lớn nguy cơ dẫn đến đột quỵ. Những kiểm tra đơn giản như đo huyết áp, xét nghiệm đường huyết, mỡ máu và điện tâm đồ để phát hiện rối loạn nhịp tim đã có thể giúp nhận diện khoảng 80-90% nguyên nhân đột quỵ trong tương lai.
Thậm chí, việc theo dõi nhịp tim còn có thể thực hiện bằng các thiết bị thông minh như điện thoại hoặc đồng hồ thông minh, giúp phát hiện sớm các rối loạn nhịp tim bất thường.
Bác sĩ Dũng khẳng định một số yếu tố như tuổi tác, giới tính hay chủng tộc có thể tác động tới nguy cơ đột quỵ. Người châu Á, trong đó có người Việt Nam, vốn có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với một số khu vực khác. Nhưng mỗi người kiểm soát tốt những yếu tố nguy cơ sẽ giảm nỗi lo gánh nặng bệnh này.
Những người hút thuốc lá lâu năm nên siêu âm động mạch cảnh để phát hiện tình trạng hẹp hoặc xơ vữa mạch máu – yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ. Quá trình tổn thương mạch máu thường diễn ra âm thầm trong nhiều năm, giống như đường ống nước bị han gỉ dần theo thời gian. Khi các mạch máu bị xơ vữa, nguy cơ hình thành cục máu đông gây tắc mạch hoặc vỡ mạch dẫn đến đột quỵ sẽ tăng lên.
“Các bác sĩ cấp cứu chỉ là người dập lửa khi đột quỵ xảy ra. Thực chất, chiến lược quan trọng nhất vẫn là phòng bệnh. Phòng ngừa tốt sẽ giúp giảm gánh nặng bệnh tật, giảm chi phí điều trị và giảm áp lực cho hệ thống y tế”, bác sĩ Dũng nói.
Báo Việt Nam