Monday , May 25 2026

Cựu Không Quân Lê Xuân Nhị kể chuyện lần đầu… ở tù lính

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Ông Lê Xuân Nhị và cũng là nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị, là cựu Không Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và là một trong những ngòi bút nổi tiếng ở hải ngoại.

Cựu Không Quân Lê Xuân Nhị (phải) và cựu Lôi Hổ La Chiến Thắng trong ngày kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH 2015, tại New Orleans, Louisiana. (Hình: Lê Xuân Nhị cung cấp)

Nét đặc biệt của tay cầm bút này là viết nhiều, viết nhanh và bút pháp của ông đã từng lôi cuốn độc giả qua những tác phẩm truyện ngắn, truyện dài… Nhất là những tự truyện ông viết về cuộc đời quân ngũ của ông trong thời chiến, hay những tiểu thuyết viết về những “xã hội đen” của các băng đảng mafia tại Hoa Kỳ.

Lê Xuân Nhị quê quán Ban Mê Thuột nên lấy bút hiệu Trường Sơn Lê Xuân Nhị để nhớ đến quê hương của mình. Năm 1970, ông tốt nghiệp Khóa 4/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau đó tốt nghiệp khóa bay 39, L-19 Hoa Tiêu Quan Sát Nha Trang.

Ra trường, ông bắt đầu đi bay hành quân đúng vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Ông phục vụ tại Phi Đoàn 114, Không Đoàn 62, Sư Đoàn 2 Không Quân QLVNCH, đóng tại Nha Trang cho đến ngày miền Nam Việt Nam bị thất thủ.

Cuộc đời và những tác phẩm của nhà văn Trường Sơn Lê Xuân Nhị đã được ghi lại trong nhiều cơ quan truyền thông báo chí tại hải ngoại gần 50 năm qua. Riêng về tập tự truyện do ông kể về cuộc đời quân ngũ của mình, phóng viên nhật báo Người Việt đã có cuộc phỏng vấn ông tại Little Saigon.

Lái chiếc L-19 để thám thính

Nhớ về thời lính, ông kể: “Khi được định cư tại Hoa Kỳ, rồi sau mười mấy năm di tản, tôi đã được đọc nhiều câu chuyện viết về cuộc đời binh nghiệp của nhiều cựu quân nhân QLVNCH. Chuyện kể nào cũng rất hay và hào hùng. Riêng tôi, nghĩ về cuộc đời binh nghiệp dang dở của mình, dù có chủ quan đến đâu, tôi cũng thấy ngượng ngùng. Vì kể từ ngày giã từ cha mẹ, các em đi nhập ngũ cho đến ngày leo lên máy bay, đời lính tôi chẳng có đoạn nào hào hùng đáng kể.”

“Lý do đơn giản vì tôi là phi công lái máy bay L-19. Nếu là phi công chiến đấu của khu trục hay trực thăng, có lẽ tôi cũng đã có nhiều kỷ niệm ghê gớm hơn đáng được kể lại cho mọi người nghe, như lúc cắm máy bay xuống giữa tầm đạn phòng không để thả những trái bom xuống đầu địch, hoặc lái trực thăng xông pha lửa đạn để thả quân hay bốc thương binh ở những vùng địa đầu giới tuyến. Nhưng chiếc máy bay L-19 của tôi, mà người đời cho biệt danh là ‘Máy Bay Bà Già” hay “Đầm Già,” lại còn có thân hình ẻo lả chậm chạp nữa, nên chẳng có gì là hào hùng cả,” ông nói.

Nhiệm vụ của ông cùng chiếc L-19 là thám thính và đánh trái khói chỉ điểm mục tiêu. Vì thế, thám thính hay quan sát thì bay cao bay thấp gì cũng được, chẳng ai cần để ý. Lúc mới ra trường thì Không Quân Lê Xuân Nhị còn hăng lắm, nên trận thám sát nào ông cũng cho chiếc L-19 của mình bay xuống thấp gần ngọn cây.

Đầu năm 1974, chiến trường miền Nam Việt Nam càng thêm khốc liệt. Quân Bắc Việt bắt đầu tiến quân đánh chiếm những vùng địa đầu giới tuyến. Có những trận Cộng Quân Bắc Việt đã bị QLVNCH đẩy lui và tái chiếm như trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị và trận Bình Long An Lộc…

Trường Sơn Lê Xuân Nhị tâm tình: “Tôi nói ra sự thật này, vì tôi không thể dối lòng mình và dối mọi người để cho rằng, ngày xưa, tôi là một chiến sĩ oai hùng, anh dũng lắm! Đời tôi đã hèn một lần vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, nên tôi không thể hèn thêm nữa. Vì nói láo đối với tôi là một hành động hèn nhát. Vì vậy, tôi thành thật mà kể rằng, suốt mấy năm mặc áo nhà binh, ăn cơm chính phủ, những đoạn nhớ nhất về cuộc đời binh nghiệp của tôi là mấy lần đi ở tù!”

Ông khẳng khái kể, cho biết đời lính ngắn ngủi của mình bị ở tù trước sau là bốn lần. Nói ngắn ngủi vì ông nhập ngũ năm 1969, đến năm 1975 thì quân đội tan hàng, tính ra là gần được sáu năm.

“Sáu năm lính mà ở tù bốn lần, và mỗi lần một hai ngày là quá ít, nhưng đối với một thằng nhớ dai như tôi, mỗi lần như thế là một kỷ niệm. Sau mấy mươi năm, bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi bị ở tù bốn lần chả thấy oan ức chút nào cả. Vì mỗi lần bị ở tù đều do lỗi của mình nên rất đáng bị nhốt để duy trì kỷ luật quân đội và ‘sì-tốp’ bớt cái tính du côn hung hãn của thằng thiếu úy trẻ. Đôi khi, tôi cảm thấy kỷ luật của quân đội đối với tôi như vậy còn là nhẹ hều,” ông nói.

Phi công Lê Xuân Nhị tại phi trường Ban Mê Thuột năm 1972. (Hình: Lê Xuân Nhị cung cấp)

Hơi men đưa đến… lao tù

Ông Lê Xuân Nhị nhớ lại: “Tôi còn nhớ, lần nếm mùi tù đầu tiên chỉ sau khi khoác áo nhà binh mấy tháng ở trường Bộ Binh Thủ Đức. Lý do là vào một tối, tôi có nhiệm vụ đi gác tuyến, và phiên gác của tôi là vào 3 giờ sáng. Tôi cụ bị mùng mền, chiếu gối cùng trung đội ra tuyến gác. Công việc đầu tiên của toán gác đêm chúng tôi là căng lều võng, xong lúc ấy mới có 9 giờ đêm. Không có chuyện gì làm, thay vì nằm ngủ lấy sức như những người anh em ngoan ngoãn khác, tôi và vài thằng bạn trời đánh rủ nhau ra khu gia binh ăn hột vịt lộn.”

“Muốn thưởng thức hột vịt lộn cho đúng điệu thì phải có ba thứ đi kèm: Thứ nhất muối tiêu, thứ nhì rau răm và món thứ ba là không thể thiếu được, đó là bia. Cái món sau cùng này tuy hấp dẫn, nhưng nó đã hại tôi, bởi khi tan sòng nhậu bia với hột vịt lộn, lúc ra về, trời đã quá nửa đêm. Lúc đó bước chân tôi xiêu vẹo lạng quạng, nghiêng ngã, bởi vì tôi đã xỉn rồi. Tôi và mấy thằng bạn nhậu mò mẫm mãi mới về đến nơi tuyến gác đêm. Vào tới lều thì tôi chẳng còn biết trời trăng gì nữa, nằm lăn quay ra đánh một giấc ngon lành. Gần 3 giờ sáng, một người khóa sinh đánh thức tôi để đổi gác. Nhưng lúc đó thân tôi cũng như khúc gỗ, và nếu có ai mang tôi vào lửa thì tôi cũng không cần biết. Thì thử hỏi, làm sau tôi thức dậy được,” ông kể thêm.

Sau đó, anh khóa sinh tiếp tục đánh thức ông nữa để đổi gác, ông tức giận mới tặng cho anh này một cú đạp bằng giày “bốt-đờ-sô” (botte de saut), anh té lăn cù, rồi đi báo cáo cho trung đội trưởng.

Ông trung đội trưởng thì khôn hơn, biết tính Lê Xuân Nhị nên chẳng thèm gọi nữa, liền đi thông báo với sĩ quan cán bộ trực là Trung Úy Ba. Có lẽ bị mất giấc ngủ vì một chuyện không đâu, Trung Úy Ba hầm hầm xách cây Carbine M-2 chạy ra tuyến để làm việc với khóa sinh Nhị.

Ông Lê Xuân Nhị kể tiếp: “Ông Trung Úy Ba la lớn đánh thức tôi hai lần không có kết quả, không để mất thì giờ, ông mới tặng cho tôi hai cú đập bằng báng súng Carbine M-2. Bị dộng mấy cái đau điếng, tôi lồm cồm bò dậy. Trung Úy Ba xài xể tôi một hồi, rồi bắt tôi ôm súng ra tuyến gác. Để trừng phạt, ông bắt tôi phải gác thế cho tất cả những người khác tới sáng.”

“Tôi ôm cây M-2 ra phòng tuyến trong lúc hơi men còn ngây ngất trong hồn, nên tôi quên cả câu hỏi mật khẩu và mấy thứ khác của người lính gác. Đứng gác được khoảng 15 phút thì tôi không còn chịu nổi nữa, cơn buồn ngủ kéo tới. Rồi ông ‘thần men’ đẩy tôi rớt một cái rầm xuống đám cỏ. Ôi, đất ơi là đất, sao mà êm ái và dịu dàng thế này, tôi nhắm mắt tiếp tục ngủ thẳng cẳng,” ông nhớ lại.

Cơn “xỉn ngủ” chưa đã thèm thì Trung Úy Ba lại đi thanh tra nữa. Gặp khóa sinh Lê Xuân Nhị đang ngủ khò trong phiên gác. Vừa mới đánh thức Lê Xuân Nhị, ông liền cho người đưa Nhị về thẳng đồn quân cảnh. Lúc tỉnh dậy, đầu óc choáng váng, ông Nhị nhìn thấy ánh sáng mặt trời đã ló dạng qua khung cửa sổ có mấy song sắt, ông thầm nghĩ trong lòng, là biết mình đang bị ở tù vì phạm kỷ luật của quân trường.

Sáng hôm đó là Chủ Nhật, quân trường cho thân nhân vào thăm viếng các khóa sinh. Một dịp may đến cho khóa sinh phạm kỷ luật Lê Xuân Nhị, vì ông có thân nhân đến thăm.

Ông Lê Xuân Nhị kể: “Quê tôi ở rất xa, mãi trên cùng cao nguyên đất đỏ. Hôm nay thằng em kế của tôi lên thăm ông anh thương mến của mình đang tòng quân nhập ngũ, lại ngay lúc anh của mình đang bị ở tù, thì có gì xui hơn nữa! Hai anh em gặp nhau trong một tiếng đồng hồ ngắn ngủi. Tôi dặn nó về đừng có nói là lên thăm gặp tôi đang ở tù, sợ cha mẹ buồn. Em tôi cười nhẹ và nói, ‘Anh là cùi mà còn sợ hủi. Đi lính mà không ở tù lính thì làm sao đáng gọi là lính?’ Tôi ậm ừ và cũng đành dùng câu nói của thằng em quý để tự an ủi lòng mình. Chiều hôm ấy tôi được ra khỏi tù quân đội, nhưng rất tiếc là đã tiêu hết ngày Chủ Nhật quý giá của khóa sinh đang thụ huấn tại quân trường.”

Cựu Không Quân Lê Xuân Nhị (đứng, phải) cùng một số chiến hữu và đồng hương, trong đó có cựu Không Quân Lý Tống (thứ hai từ phải), cựu Không Quân Đại Tá Võ Văn Ân (giữa), tại Dallas, Texas, năm 2007. (Hình: Lê Xuân Nhị cung cấp)

“Hành hạ” chiếc L-19

Ông Lê Xuân Nhị vui vẻ kể: “Nói gì chớ bay bổng và nhậu nhẹt là hai chuyện tôi thích nhất. Ngày nào tôi cũng vào phi đoàn, ký sổ phi lệnh rồi xách một chiếc L-19 cất cánh lang thang một mình trong không gian bát ngát. Tôi nhào, tôi lộn, tôi bay nghiêng bay ngả, tôi hành hạ chiếc L-19 đáng thương như đứa bé con tinh nghịch đùa giỡn với món đồ chơi của mình. Có lúc, tôi xách tàu ra ngoài biển đi phá mấy ông thuyền chài. Khi thấy một chiếc ghe nào lạc lõng một mình trên biển là tôi bớt ga biểu diễn màn bay sát mặt nước, nhắm thẳng vào chiếc ghe lao tới như các Kamikaze Nhật trong ‘xi nê.’”

“Chơi nghịch vụ này, nếu người ngồi trên ghe chưa chịu nhảy xuống biển là tôi chưa thỏa mãn, tôi quay tàu lại làm những vòng khác thấp hơn. Tôi không nhớ đã thoát chết bao nhiêu lần và đã làm không biết bao nhiêu người thuyền chài vô tội sợ hú hồn, đành phải nhảy tùm xuống biển,” ông kể thêm.

Một ngày nọ, vào khoảng giữa trưa, ông Nhị ra chiếc L-19 để bay tập. Ông nhớ rõ hôm ấy là ngày Thứ Sáu và lại vào giấc trưa nên phi trường vắng vẻ vô cùng. Phi đoàn cũng vắng tanh. Tuy ở phi đoàn chưa lâu lắm, nhưng ông biết chiều Thứ Sáu “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm.” Thử máy xong, ông đem tàu ra so hàng ở taxiway rồi xin đài kiểm soát ra phi đạo cất cánh. Đài kiểm soát vừa ra lệnh “Clear for take off” là chiếc L-19 đã bị phi công Lê Xuân Nhị tống ga liền. Con tàu gầm lên nhào tới trước.

Ông Nhị kể tiếp: “Tôi tăng tốc độ, phi cơ ‘ăn no gió’ chuyền áp lực vào cần lái làm tay tôi bắt đầu cảm thấy nặng, và chỉ cần kéo nhẹ cần lái là tàu sẽ rời mặt đất từ từ bay bổng lên không. Đó là kiểu cất cánh bình thường. Nhưng đời tôi, ít khi nào tôi làm chuyện gì bình thường. Cho nên thay vì kéo cần lái lên, tôi lại hơi đè cần lái xuống cho tàu nhỏng đít chạy thẳng trên phi đạo. Cất cánh như thế này mới giống Skyraider, mới kiêu hùng và mới đúng điệu ‘Pilot de Guerre.’ Tôi cứ ráng giữ như thế cho đến lúc không thể nào đè phi cơ trên mặt đất nữa, mới hơi nới cần lái cho tàu bay lên.” (Lâm Hoài Thạch) [qd]

About admin

Check Also

Hoàng Hên chói sáng, Hà Nội hạ gục Nam Định

Đỗ Hoàng Hên có màn trình diễn ấn tượng, góp công lớn giúp Hà Nội …