Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ đặt văn hóa ở vị trí nền tảng tinh thần mà mở ra yêu cầu chuyển văn hóa thành nguồn lực phát triển mới.
Với đồng bằng sông Cửu Long, đây là cơ hội để những giá trị sông nước, miệt vườn, lễ hội và đờn ca tài tử bước ra khỏi không gian bảo tồn, trở thành sản phẩm của kinh tế sáng tạo và sức mạnh mềm vùng miền.
Từ vùng đất phù sa đến không gian văn hóa đặc sắc
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ lâu được biết đến là vùng trọng điểm nông nghiệp, thủy sản và cây ăn trái lớn nhất cả nước. Những cánh đồng lúa trải dài, hệ thống sông ngòi chằng chịt, chợ nổi tấp nập hay những miệt vườn trĩu quả trở thành hình ảnh quen thuộc của vùng đất phương Nam. Nhưng nếu chỉ nhìn ĐBSCL qua lúa gạo, tôm cá và kinh tế nông nghiệp vẫn chưa thấy hết chiều sâu và giá trị đặc biệt của vùng đất này. Ẩn sau lớp phù sa màu mỡ là một không gian văn hóa rộng lớn, nơi nhiều dòng chảy văn hóa gặp gỡ, giao thoa và kết tinh trong suốt quá trình khai phá và phát triển.
Hiện nay, ĐBSCL có hơn 17 triệu dân với 44 dân tộc cùng sinh sống. Quá trình cộng cư lâu dài của người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm và nhiều cộng đồng khác đã tạo nên cấu trúc văn hóa dung hợp đặc trưng của vùng châu thổ Cửu Long. Từ sự giao thoa ấy, vùng đất này hình thành nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như văn hóa sông nước, văn hóa miệt vườn, nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng cộng đồng, lễ hội truyền thống, ẩm thực và kiến trúc dân gian Nam Bộ. Đây là vùng đất mà đời sống văn hóa gắn chặt với nhịp điệu của dòng sông, với ghe thuyền, mùa nước nổi, chợ nổi và những hình thức sinh hoạt cộng đồng đậm chất phương Nam.
Nhiều giá trị văn hóa của vùng hiện đã trở thành di sản văn hóa cấp quốc gia và quốc tế. Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Các loại hình nghệ thuật của đồng bào Khmer như Chầm riêng Chà pây, Dù kê, Rô-bam hay lễ hội Ok Om Bok và đua ghe Ngo cũng trở thành những biểu tượng văn hóa tiêu biểu của vùng. Bên cạnh đó là lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam ở An Giang, lễ hội Nghinh Ông ở Bến Tre, lễ hội Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang, văn hóa chợ nổi Cái Răng và hò Cần Thơ. Hệ thống chùa Khmer Nam tông, các ngôi nhà cổ Nam Bộ, làng nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực miền Tây cũng tạo nên bản sắc rất riêng cho vùng đất này.
Đến cuối năm 2022, toàn vùng có 9 di tích quốc gia đặc biệt, 204 di tích quốc gia, 618 di tích cấp tỉnh và 51 di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhiều di sản đã vượt ra khỏi phạm vi địa phương để trở thành “thương hiệu văn hóa” của ĐBSCL, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Điều quan trọng là những giá trị ấy không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn di sản. Trong bối cảnh phát triển mới, đây còn là nguồn tài nguyên đặc biệt cho công nghiệp văn hóa. Nếu được tổ chức bằng tư duy hiện đại, văn hóa sông nước, lễ hội dân gian, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực, làng nghề hay không gian miệt vườn hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho phát triển du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế sáng tạo, nội dung số và xây dựng thương hiệu vùng. Khi đó, văn hóa không chỉ là ký ức hay bản sắc mà trở thành động lực phát triển và nguồn sức mạnh mềm mới của ĐBSCL trong kỷ nguyên kinh tế sáng tạo.
Nghị quyết 80 và yêu cầu chuyển từ bảo tồn sang kiến tạo giá trị
Điểm đặc biệt của Nghị quyết số 80-NQ/TW là lần đầu tiên văn hóa được đặt ở vị trí nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đây không còn là cách tiếp cận xem văn hóa chủ yếu như lĩnh vực tinh thần hay hoạt động hỗ trợ xã hội mà đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
Trong tư duy đó, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, chuyển đổi số, thị trường văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia trở thành những nội dung trọng tâm. Nghị quyết không chỉ nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn di sản mà còn đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế, hình thành các thương hiệu văn hóa quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm văn hóa và xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn về văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo.
Tinh thần ấy có ý nghĩa rất trực tiếp đối với ĐBSCL. Bởi thực tế nhiều năm qua cho thấy vùng đất này sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú nhưng việc chuyển hóa thành giá trị kinh tế và sản phẩm công nghiệp văn hóa vẫn còn chậm. Văn hóa vẫn chủ yếu tồn tại dưới dạng tiềm năng, trong khi thiếu những mô hình khai thác có chiều sâu và có khả năng tạo thành chuỗi giá trị bền vững.
Nhiều lễ hội lớn thu hút đông đảo người dân và du khách nhưng chủ yếu dừng ở hoạt động tín ngưỡng, tham quan hoặc tổ chức sự kiện ngắn hạn, chưa hình thành được các chuỗi dịch vụ văn hóa – du lịch – sáng tạo đi kèm. Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ nổi tiếng nhưng chưa phát triển thành ngành công nghiệp biểu diễn tương xứng với giá trị và sức lan tỏa của nó. Văn hóa ẩm thực miền Tây phong phú nhưng chưa được định vị thành thương hiệu sáng tạo vùng đủ mạnh để tham gia sâu vào thị trường văn hóa và du lịch quốc tế.
Không chỉ vậy, nhiều sản phẩm văn hóa của vùng vẫn thiếu sự kết nối với công nghệ và thị trường sáng tạo hiện đại. Chất liệu văn hóa Nam Bộ xuất hiện khá nhiều trên mạng xã hội, từ các video đời sống miệt vườn, nội dung du lịch sông nước trên TikTok, YouTube đến các sản phẩm âm nhạc, phim ngắn hay podcast kể chuyện miền Tây. Tuy nhiên, phần lớn vẫn mang tính tự phát, thiếu chiến lược phát triển nội dung và chưa hình thành được hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh để tạo giá trị kinh tế bền vững. Không ít di sản văn hóa vẫn tồn tại chủ yếu trong phạm vi cộng đồng địa phương, chưa được số hóa, chưa được kể lại bằng ngôn ngữ mới của điện ảnh, âm nhạc, thiết kế hay nền tảng số để tiếp cận công chúng trẻ và thị trường rộng lớn hơn.
Điều đó cho thấy vấn đề của ĐBSCL hiện nay không phải là thiếu văn hóa mà thiếu cơ chế để biến văn hóa thành giá trị phát triển. Đây cũng chính là điểm mà Nghị quyết 80 tạo ra bước chuyển quan trọng về tư duy. Nếu trước đây trọng tâm thường đặt ở bảo tồn và duy trì hoạt động văn hóa nay yêu cầu đặt ra là phải hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, nơi di sản, nghệ thuật, du lịch, công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia tạo ra giá trị mới.
Nói cách khác, Nghị quyết 80 mở ra cơ hội để các địa phương vùng Tây Nam Bộ chuyển từ tư duy “giữ gìn văn hóa” sang tư duy “kiến tạo giá trị văn hóa”. Khi văn hóa được đặt vào cấu trúc phát triển, mỗi lễ hội, mỗi loại hình nghệ thuật dân gian, mỗi làng nghề hay mỗi không gian sông nước đều có thể trở thành một mắt xích của kinh tế sáng tạo. Không chỉ du lịch hay lễ hội, các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc đại chúng, thiết kế sáng tạo, nội dung số hay truyền thông văn hóa số cũng có thể trở thành những hướng phát triển mới của công nghiệp văn hóa miền Tây trong tương lai. Đây chính là hướng đi quan trọng để đồng bằng sông Cửu Long vừa bảo tồn được bản sắc, vừa tạo ra động lực phát triển mới trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa nhiều hơn vào sức mạnh văn hóa và khả năng sáng tạo.
Cần một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa vùng Tây Nam Bộ
Điều ĐBSCL cần hiện nay không phải là thêm những lễ hội hay những hoạt động quảng bá riêng lẻ mà là một hệ sinh thái sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa mang tính vùng. Nếu tiếp tục khai thác văn hóa theo hướng manh mún, thiên về sự kiện ngắn hạn và cạnh tranh địa phương, công nghiệp văn hóa khó có thể trở thành động lực phát triển thực sự. Vấn đề đặt ra là phải kết nối di sản, du lịch, nghệ thuật, công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng thành một chuỗi giá trị thống nhất, đủ khả năng tạo ra sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa và giá trị kinh tế bền vững.
Trước hết, vùng Tây Nam Bộ cần định vị rõ thương hiệu văn hóa của mình. Nếu Tây Bắc được nhận diện bằng văn hóa núi cao hay miền Trung gắn với không gian di sản cung đình và biển thì ĐBSCL hoàn toàn có thể định hình hình ảnh một vùng văn hóa sông nước, miệt vườn, lễ hội và đời sống cộng đồng phóng khoáng, nghĩa tình. Đây không chỉ là câu chuyện quảng bá du lịch, mà phải trở thành bản sắc nhận diện chung trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của toàn vùng. Mỗi địa phương vẫn có nét riêng, nhưng cần được đặt trong một thương hiệu vùng thống nhất để tạo sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa lớn hơn.
Cùng với đó, các sản phẩm văn hóa cũng phải được phát triển theo hướng có chiều sâu và giàu trải nghiệm hơn. ĐBSCL không thể chỉ dừng ở mô hình đưa khách đi chợ nổi, nghe đờn ca tài tử hay thưởng thức trái cây miệt vườn. Điều công chúng hiện nay tìm kiếm là trải nghiệm văn hóa toàn diện và có tính kể chuyện. Đó có thể là những hành trình khám phá lịch sử khẩn hoang mở đất, các chương trình trình diễn nghệ thuật dân gian gắn với không gian sông nước, những lớp học nấu món ăn Nam Bộ, tuyến du lịch ghe thuyền miệt vườn, hay các phiên chợ đêm kết hợp âm nhạc và ẩm thực địa phương. Cùng với đó là các sản phẩm truyền thông hiện đại như phim tài liệu, podcast, video ngắn hay nội dung số kể chuyện về con người và đời sống miền Tây. Khi văn hóa được kể lại bằng ngôn ngữ mới, giá trị di sản mới có thể tiếp cận công chúng trẻ và thị trường rộng lớn hơn.
Một hướng đi quan trọng khác là hình thành các trung tâm sáng tạo văn hóa mang tính liên kết vùng. Cần Thơ có thể trở thành đầu mối về du lịch văn hóa và nội dung số. An Giang có lợi thế về lễ hội, tín ngưỡng và du lịch tâm linh. Kiên Giang có khả năng kết hợp văn hóa biển đảo với du lịch quốc tế. Sóc Trăng và Trà Vinh nổi bật với không gian văn hóa Khmer Nam Bộ. Đồng Tháp, Vĩnh Long hay Bến Tre có điều kiện phát triển các sản phẩm gắn với văn hóa miệt vườn, làng nghề và nghệ thuật dân gian. Khi được kết nối bằng tư duy vùng, các địa phương sẽ không còn phát triển đơn lẻ mà hình thành chuỗi giá trị văn hóa – du lịch – sáng tạo có quy mô lớn hơn.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ cũng phải trở thành một phần của công nghiệp văn hóa. Việc số hóa di sản, xây dựng bản đồ văn hóa số, bảo tàng số về văn hóa sông nước hay kho dữ liệu về đờn ca tài tử, lễ hội, kiến trúc và ẩm thực sẽ giúp văn hóa miền Tây vượt khỏi phạm vi địa phương để tiếp cận không gian toàn cầu. Các nền tảng video, podcast, phim ngắn, ứng dụng trải nghiệm du lịch số hay nội dung văn hóa trên TikTok, YouTube không chỉ phục vụ quảng bá, mà còn mở ra thị trường mới cho các sản phẩm sáng tạo mang bản sắc Nam Bộ.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là đặt người dân và nghệ nhân vào trung tâm của quá trình phát triển. Công nghiệp văn hóa không thể chỉ là dự án của doanh nghiệp hay hoạt động quản lý của chính quyền. Chủ thể văn hóa phải được tham gia, được hưởng lợi và được tôn trọng. Nếu lễ hội bị thương mại hóa một cách thô ráp, nếu chợ nổi chỉ còn là “sân khấu” phục vụ khách du lịch, nếu đờn ca tài tử bị tách khỏi đời sống cộng đồng để trở thành tiết mục biểu diễn đơn thuần, thì công nghiệp văn hóa sẽ đánh mất phần hồn cốt quan trọng nhất của nó.
Tương lai phát triển của ĐBSCL không chỉ nằm ở phù sa, lúa gạo hay thủy sản mà còn nằm ở khả năng biến bản sắc văn hóa thành nguồn lực mới. Nghị quyết 80-NQ/TW đã mở ra một tầm nhìn quan trọng: văn hóa phải trở thành trụ cột phát triển, công nghiệp văn hóa phải trở thành động lực của kinh tế sáng tạo. Trong cuộc cạnh tranh của thế kỷ XXI, những vùng đất chỉ dựa vào tài nguyên tự nhiên sẽ dần mất lợi thế. Với Tây Nam Bộ, cơ hội lớn nhất chính là biến di sản thành giá trị, biến bản sắc thành năng lực cạnh tranh và biến văn hóa thành sức mạnh phát triển mới của cả vùng.
TS. Triệu Quang Minh
Báo Việt Nam