Văn hóa không chỉ nằm trong di sản, bảo tàng, sân khấu hay những tác phẩm nghệ thuật. Văn hóa hiện diện trong cách một xã hội đối xử với quá khứ, ứng xử với nhau ở hiện tại và lựa chọn những giá trị cho tương lai.
Thấy gì sau những cơn sốt phim lịch sử?
Muốn văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, điều quan trọng nhất là làm cho văn hóa sống trong đời sống của mỗi người dân, trong đó thế hệ trẻ là điểm nhấn đặc biệt nhưng không thể là chủ thể duy nhất gánh trách nhiệm gìn giữ bản sắc dân tộc.
Tôi nhớ câu chuyện vào một buổi tối tháng 2/2024, giữa dòng người xếp hàng mua vé xem Đào, Phở và Piano tại Trung tâm Chiếu phim quốc gia, Nguyễn Thắng (29 tuổi), làm nghề lái xe công nghệ ở Hà Đông. Thắng quyết định nghỉ ca tối để đi xem bộ phim về Hà Nội trong những ngày Toàn quốc kháng chiến.
Cũng trong dòng người ấy có Ngọc Thảo, 22 tuổi phải nhiều lần tìm cách đặt vé. Có những nhóm bạn trẻ, những người trung niên kiên nhẫn chờ đợi, có người canh vé từ nửa đêm. Những câu chuyện tương tự đã xảy ra với Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, Mưa đỏ, Tử chiến trên không. Ấn tượng ấy của tôi không chỉ bởi những bộ phim lịch sử bất ngờ tạo nên hiện tượng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là hình ảnh những con người bình thường tự nguyện dành thời gian, công sức và cả một phần thu nhập để tìm đến văn hóa.
Một người lao động nghỉ ca tối. Một cô gái trẻ nhiều lần săn vé. Những gia đình, nhóm bạn cùng đến rạp. Trong khoảnh khắc đó, lịch sử không còn là một bài học bắt buộc; văn hóa không còn là điều được kêu gọi từ bên ngoài. Nó trở thành một nhu cầu tự thân, một cuộc gặp gỡ giữa ký ức dân tộc và cảm xúc của con người hôm nay.
Những câu chuyện ấy cũng giúp chúng ta nhìn vấn đề đầy đủ hơn. Không chỉ người trẻ cần được đưa đến gần văn hóa. Cả xã hội cần được sống trong một môi trường văn hóa lành mạnh, hấp dẫn và giàu tính nhân văn. Người trẻ là điểm nhấn bởi họ là lực lượng sẽ mang các giá trị của dân tộc đi vào tương lai nhưng không thể yêu cầu họ một mình bảo vệ truyền thống trong khi người lớn thờ ơ, gia đình thiếu gắn kết, nhà trường khô cứng, thiết chế văn hóa kém hấp dẫn và không gian mạng bị lấn át bởi những nội dung dễ dãi.
Văn hóa là sức mạnh mềm và động lực phát triển
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu thu hẹp khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình hành động đến tác động thực tế; đồng thời chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành dữ liệu, tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo, sức mạnh mềm và động lực phát triển.
Tôi cho rằng, chiều sâu của yêu cầu ấy nằm ở việc đưa văn hóa trở về đúng vị trí của nó: không phải một lĩnh vực đứng riêng bên cạnh kinh tế và xã hội mà là phần hồn, hệ điều tiết và năng lực tự hoàn thiện của cả cộng đồng.
Văn hóa không chỉ là một bộ phim hay, một lễ hội đẹp hay một di tích được trùng tu. Văn hóa còn nằm trong cách cán bộ tiếp người dân; cách doanh nghiệp giữ chữ tín; cách người tham gia giao thông nhường đường; cách chúng ta tranh luận trên mạng xã hội; cách một cộng đồng chăm sóc người yếu thế; cách mỗi gia đình gìn giữ sự yêu thương, tôn trọng và trách nhiệm giữa các thế hệ.
Một xã hội có thể có nhiều công trình văn hóa nhưng chưa chắc đã có môi trường văn hóa tốt. Chúng ta có thể xây những nhà hát hiện đại, những bảo tàng quy mô, những trung tâm văn hóa khang trang nhưng nếu người dân không muốn đến, nghệ sĩ không có điều kiện sáng tạo, trẻ em không tìm thấy niềm vui và cộng đồng không coi đó là không gian của mình thì công trình vẫn có nguy cơ đứng ngoài đời sống.
Ngược lại, một thư viện nhỏ nhưng luôn có trẻ em đọc sách. Một quảng trường nơi người dân cùng nghe nhạc. Một đình làng có sinh hoạt cộng đồng thường xuyên. Một bảo tàng biết kể chuyện bằng công nghệ; một không gian sáng tạo mở cửa cho người trẻ thử nghiệm ý tưởng – đó mới là những thiết chế văn hóa thực sự sống. Văn hóa chỉ có ý nghĩa khi con người cảm thấy mình thuộc về nó.
Tôi thuộc thế hệ sinh ra đúng vào năm đất nước thống nhất. Hơn 20 năm trước, khi học về quản lý nghệ thuật và di sản tại Đại học Bắc London, tôi có cơ hội quan sát cách nhiều bảo tàng, nhà hát và di tích được tổ chức không chỉ như nơi bảo quản quá khứ mà như những không gian học tập, gặp gỡ và sáng tạo của xã hội. Sau khi trở về nước, những nghiên cứu đầu tiên của tôi tập trung vào ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội và những thay đổi văn hóa – xã hội do phương tiện truyền thông mới tạo ra.
Khi ấy, Internet tương đối mới mẻ. Nhưng ngay từ những bước đầu, chúng tôi đã nhận thấy công nghệ không chỉ thay đổi cách con người tiếp nhận thông tin. Nó thay đổi thời gian, không gian giao tiếp, thay đổi thị hiếu, quan hệ xã hội và cách mỗi người nhìn nhận chính mình.
Hôm nay, tác động ấy đã lớn hơn rất nhiều. Không gian số trở thành một phần của đời sống xã hội. Một đứa trẻ có thể biết đến những biểu tượng văn hóa từ bên kia thế giới trước khi hiểu về di sản ngay trên quê hương. Một người trưởng thành có thể dành nhiều giờ mỗi ngày trong những dòng nội dung được thuật toán lựa chọn. Một tin giả, một hành vi lệch chuẩn hay một sản phẩm dung tục có thể lan truyền nhanh hơn nhiều lần so với những giá trị tốt đẹp.
Nhưng sẽ không công bằng nếu chỉ trách người trẻ vì những gì họ xem, nghe và lựa chọn. Con người luôn hướng đến những gì hấp dẫn. Câu hỏi cần đặt ra cho cả xã hội: Chúng ta đã tạo ra đủ nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam có chất lượng, hiện đại, xúc động và gần gũi hay chưa?
Không thể yêu cầu công chúng tìm đến văn hóa chỉ bằng trách nhiệm. Phải làm cho văn hóa xứng đáng để họ tìm đến. Người trẻ không quay lưng với lịch sử. Họ chỉ khó kiên nhẫn với những cách kể thiếu sức sống. Họ không khước từ truyền thống. Họ chỉ không muốn truyền thống xuất hiện như một khuôn mẫu bất động, đứng ngoài những khát vọng và vấn đề của cuộc sống hôm nay.
Nhưng để người trẻ yêu văn hóa dân tộc, cả xã hội phải cùng kiến tạo môi trường cho tình yêu ấy. Gia đình phải là nơi những câu chuyện về quê hương và tổ tiên được kể bằng sự trìu mến. Nhà trường phải biến lịch sử, văn học và nghệ thuật thành trải nghiệm chứ không chỉ là kiến thức để thi. Báo chí và truyền thông phải góp phần nâng cao thị hiếu, không chạy theo sự giật gân bằng mọi giá. Nghệ sĩ phải được tạo điều kiện để sáng tạo. Doanh nghiệp phải nhìn thấy cơ hội và trách nhiệm trong đầu tư cho văn hóa. Nhà nước phải kiến tạo thể chế, hạ tầng và môi trường bình đẳng cho các chủ thể tham gia.
Đặc biệt, người lớn phải làm gương. Không thể dạy trẻ ứng xử văn minh nếu chính người lớn sẵn sàng xúc phạm nhau trên mạng. Không thể yêu cầu thanh niên sống trung thực nếu xã hội dung thứ sự giả dối. Không thể kêu gọi thế hệ trẻ có trách nhiệm với cộng đồng nếu họ thường xuyên chứng kiến sự vô cảm trước những người yếu thế. Văn hóa không được truyền dạy hiệu quả nhất bằng lời nói. Văn hóa được trao truyền qua cách sống.
Phát triển công nghiệp văn hóa cũng phải được nhìn từ chiều sâu
Một vấn đề khác rất đáng quan tâm là số hóa di sản. Chúng ta đang có trong tay một kho tàng lớn về lịch sử, tiếng Việt, di tích, hiện vật, văn học, âm nhạc, nghệ thuật truyền thống và tri thức dân gian. Nhưng sự giàu có ấy sẽ chỉ nằm dưới dạng tiềm năng nếu không được tổ chức thành dữ liệu có thể tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.
Số hóa không thể chỉ là chụp ảnh một hiện vật hay quét một văn bản rồi đưa lên mạng. Nếu dữ liệu không phục vụ học tập, nghiên cứu, sáng tạo, du lịch và phát triển công nghệ, chúng ta mới chỉ chuyển di sản từ một kho vật lý sang một kho điện tử.
Một di sản được số hóa đúng nghĩa phải giúp học sinh ở vùng xa có thể tiếp cận bảo vật quốc gia; giúp nhà làm phim tìm được tư liệu chính xác; giúp người thiết kế khai thác hoa văn truyền thống; giúp du khách có trải nghiệm sâu sắc; giúp trí tuệ nhân tạo hiểu đúng hơn về lịch sử, ngôn ngữ và con người Việt Nam.
Nhưng phía sau mỗi bộ dữ liệu là những con người cụ thể. Đằng sau một làn điệu là cuộc đời của nghệ nhân. Đằng sau một nghề thủ công là sinh kế và ký ức của nhiều gia đình. Không thể khai thác di sản để tạo ra lợi nhuận nhưng để cộng đồng giữ di sản đứng ngoài chuỗi giá trị.
Muốn di sản sống, người giữ di sản phải có thể sống bằng nghề. Muốn truyền thống được trao lại cho thế hệ trẻ, những người nắm giữ tri thức truyền thống phải được tôn trọng, có điều kiện thực hành và có người kế tục.
Phát triển công nghiệp văn hóa cũng phải được nhìn từ chiều sâu ấy. Văn hóa có thể tạo ra doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, du lịch và sức mạnh mềm. Một bộ phim hay có thể làm sống lại sự quan tâm đến lịch sử. Một bài hát có thể đưa tiếng Việt đến với thế giới. Một trò chơi có thể mang theo kiến trúc, trang phục và huyền thoại dân tộc. Một sản phẩm thủ công có thể tạo sinh kế cho cả cộng đồng.
Nhưng công nghiệp văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa mọi giá trị bằng mọi giá. Một sản phẩm bán được nhiều nhưng làm nghèo tâm hồn, kích thích sự dung tục hoặc cổ súy lối sống lệch chuẩn chưa thể được coi là thành công đầy đủ. Giá trị kinh tế phải đi cùng giá trị nghệ thuật, trách nhiệm xã hội và phẩm giá con người.
Chúng ta không chỉ cần nhiều sản phẩm hơn mà cần những sản phẩm tốt hơn; không chỉ cần nhiều lượt xem mà cần những ảnh hưởng tích cực hơn; không chỉ cần tăng doanh thu mà phải nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của xã hội.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra rằng nguồn chi cho văn hóa hiện mới khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn mức tối thiểu 2% được đặt ra. Đây không chỉ là khoảng cách của những con số. Đó là khoảng cách giữa điều chúng ta khẳng định và điều chúng ta thực sự ưu tiên.
Không thể nói văn hóa là nền tảng nhưng đầu tư cho văn hóa theo tư duy phần còn lại. Đầu tư cho văn hóa không phải để trang trí cho tăng trưởng mà để tăng trưởng có nhân tính, xã hội có niềm tin và con người có khả năng sống tốt đẹp hơn.
Trở lại với người tài xế công nghệ đã nghỉ một ca làm việc để đi xem phim. Có thể anh không nghĩ lựa chọn của mình liên quan đến một chiến lược lớn về văn hóa. Anh chỉ thấy bộ phim đáng để xem. Nhưng chính sự lựa chọn bình dị ấy cho thấy một điều rất quan trọng: khi văn hóa chạm được vào cảm xúc và nhu cầu thật của con người, nó sẽ tự tìm được đường vào đời sống.
Điều chúng ta cần không chỉ là những hàng người trẻ xếp hàng trước rạp chiếu phim mà là một xã hội trong đó mọi người đều có cơ hội tiếp cận, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa; nơi người cao tuổi được trân trọng, trẻ em được nuôi dưỡng tâm hồn, người lao động có đời sống tinh thần, nghệ sĩ được tự do sáng tạo trong trách nhiệm và cộng đồng được hưởng lợi từ chính di sản của mình. Người trẻ là tương lai, nhưng tương lai ấy được hình thành từ môi trường văn hóa mà toàn xã hội tạo dựng hôm nay.
Khi văn hóa sống trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, khu dân cư và không gian số; khi văn hóa hiện diện trong cả những sản phẩm lớn lẫn cách ứng xử nhỏ bé hằng ngày, nó không còn nằm yên trong nghị quyết, bảo tàng hay những lời kêu gọi. Văn hóa khi ấy trở thành sức mạnh của mỗi con người, sức mạnh của cộng đồng và năng lực đi tới tương lai của cả dân tộc.
Báo Việt Nam